🦐 Đương Sự Trong Vụ Án Hình Sự
1.1 Một số khái niệm liên quan. 2 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong thi hành án dân sự. 2.1 Quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án. 2.1.1 Quyền của người được thi hành án. 2.1.2 Nghĩa vụ của người được thi hành án. 2.2 Quyền và nghĩa vụ của người phải
Đầu tiên bị cáo không biết gì, nhưng sau đó Tuấn nói có việc của ông Quân rất tội nên đề nghị giúp đỡ. Tòa sơ thẩm xác định, trong vụ án, bị cáo Kiên đã chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Minh Quân, cựu Giám đốc Bệnh viện TP. Thủ Đức nhiều lần. Song bị cáo thành khẩn, khắc phục toàn bộ hậu quả cũng như có nhiều thành tích trong công tác.
Mô hình "Kỳ vọng - Cảm nhận" được nhà khoa học Oliver (1980) đưa ra, trong đó đề cập đến hai quá trình nhỏ tác động độc lập đến sự hài lòng của khách hàng là: kỳ vọng về dịch vụ trước khi mua và cảm nhận thực tế về dịch vụ sau khi trải nghiệm.
Sau khi tòa tuyên án, một đương sự trong vụ án đã lao ra lan can định nhảy lầu tự tử nhưng được nhiều người ngăn cản kịp thời. Sau đó TAND cấp cao tại TP.HCM đã kháng nghị giám đốc thẩm và xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và phúc thẩm.
Phương án sản xuất hình ảnh và video sự kiện sẽ luôn có trong dịch vụ Livestream chuyên nghiệp của JURO. Tại đây, khách hàng một lần nữa sẽ được chúng tôi cung cấp những thông tin quan trọng để chọn ra phương án truyền thông tối ưu nhất.
Các địa phương vùng ĐBSCL tiếp tục triển khai kế hoạch sản xuất vụ đông xuân 2022 - 2023, hưởng ứng chương trình phát động giảm lượng giống lúa gieo sạ trong sản xuất lúa của Bộ NN&PTNT. Các địa phương lên phương án tính toán lại mùa vụ minh bạch thực sự
Trên đây là một số thông tin hữu ích giải thích cho câu hỏi lỗi là gì trong lĩnh vực thi hành án hình sự. Hy vọng qua những nội dung này, bạn đọc đã hiểu rõ hơn về lỗi của tội phạm cũng như những loại lỗi để có thể tự phân biệt, đánh giá mức độ nghiêm trọng
Vụ chạy án cho cựu Giám đốc BV Thủ Đức: Cao nhất 9 năm tù. 16:27 17/09/2022 (GMT+7) TAND TP Hà Nội tuyên phạt cựu công an nhận 3,7 triệu USD để chạy án cho cựu Giám đốc Bệnh viên Thủ Đức 9 năm tù. 5 bị cáo còn lại trong vụ án bị tuyên từ 3 đến 9 năm tù. Sau nửa ngày
Thành phần của các cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án. - Người tiến hành tố tụng dân sự là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp
f3jRya0. Trang chủ » Một số điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về bị hại, đương sự trong vụ án hình sự TÓM TẮT1. Một số điểm mới về bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 20152. Một số điểm mới về đương sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khái niệm đương sự, kế thừa, chỉnh lý, bổ sung định nghĩa về các chủ thể là đương sự trong vụ án hình Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bổ sung một số quyền mới cho đương sự trong vụ án hình Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉnh lý phân định cụ thể các nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hình sự3. Một số yêu cầu trong thực tiễn áp dụng một số điểm mới về bị hại, đương sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015CHÚ THÍCH Một số điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về bị hại, đương sự trong vụ án hình sự Bị hại, các đương sự trong vụ án hình sự là những chủ thể tham gia tố tụng hình sự, tính chất dân sự trong các yêu cầu của họ tạo nên tính đặc thù về địa vị pháp lý khi họ tham gia tố tụng. Điều này đòi hỏi việc hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị hại, các đương sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự BLTTHS, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là cần thiết. BLTTHS năm 2015 đã có sự chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung quan trọng các quy định về bị hại, đương sự trong vụ án hình sự với tinh thần mở rộng và cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ, bảo đảm sự bình đẳng của bị hại, đương sự. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi phân tích những điểm mới trong quy định của BLTTHS năm 2015 về người bị hại, đương sự và một số yêu cầu bảo đảm tính khả thi trong thực tế áp dụng. Xem thêm bài viết về “Bị hại“, “Đương sự“ Bị hại là gì? Quy định về bị hại trong tố tụng hình sự? – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Quyền riêng tư của người bị hại dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự – ThS. Nguyễn Thị Lộc Người bảo vệ quyền, lợi ích của bị hại, đương sự trong tố tụng hình sự – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại – TS. Võ Thị Kim Oanh & ThS. Đinh Văn Đoàn Bình luận án lệ 12/2017/AL Xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa – ThS. Huỳnh Quang Thuận TỪ KHÓA bị hại, đương sự, vụ án hình sự, Bị hại, đương sự trong vụ án hình sự là những chủ thể tham gia tố tụng hình sự TTHS có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, vai trò của họ khi tham gia TTHS góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung, tình tiết và tính chất của vụ án, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Bộ luật Tố tụng hình sự BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm mới về bị hại, đương sự thể hiện tinh thần, mục tiêu của cải cách tư pháp là bảo vệ quyền con người, tăng cường tranh tụng. Đồng thời, nhưng điểm mới này cũng đáp ứng nhu cầu hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm giải quyết vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bị hại, đương sự. 1. Một số điểm mới về bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 có sửa đổi, bổ sung các quy định về bị hại, đương sự. Qua tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tôi phân tích một số điểm mới sau đây Về khái niệm bị hại BLTTHS năm 2015 định danh lại chủ thể là “bị hại” chứ không phải là “người bị hại” như trong BLTTHS năm 2003 và khái niệm mở rộng phạm vi chủ thể là bị hại. Điều 51 BLTTHS năm 2003 định danh chủ thể bị hành vi phạm tội trực tiếp gây thiệt hại là “người bị hại” và định nghĩa “người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”.Với quy định này cùng với các văn bản hướng dẫn một số vụ án cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao dẫn đến việc nhận thức và áp dụng quy định về người bị hại không thống nhất, ngay cả việc xác định chủ thể là người bị hại cũng có những quan điểm khác nhau. Các quan điểm truyền thống cho rằng chủ thể là người bị hại trong TTHS chỉ là cá nhân không thể là pháp nhân, càng không thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân. Nếu tổ chức bị tội phạm gây ra thiệt hại thì họ là nguyên đơn dân sự.[1] Quan điểm này dựa trên cơ sở quy định “người bị hại là người…”, từ “người” có hàm ý chỉ cá nhân, nó phù hợp với thiệt hại mang tính đặc trưng gắn với một cá nhân con người cụ thể là “thể chất”, “tinh thần”. Quan điểm khác cho rằng, người bị hại có thể là cá nhân, cũng có thể là tổ chức nếu thiệt hại của tổ chức là thiệt hại do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra, còn thiệt hại gián tiếp thì tổ chức sẽ có tư cách nguyên đơn dân sự nếu nộp đơn yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền lợi của mình.[2] Những quan điểm khác nhau như vậy dẫn đến quyền lợi của người bị hại trong những vụ án hình sự không được bảo đảm một cách triệt để, đồng thời khó khăn đối với chính người bị hại trong việc thực hiện quyền tố tụng của mình. Khắc phục những hạn chế đó, BLTTHS năm 2015 không định danh chủ thể là “người bị hại” mà định danh chủ thể bị thiệt hại do hành vi của người phạm tội là “bị hại”, đồng thời đưa ra định nghĩa về bị hại như sau “Bị hại gồm cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”.[3] So với quy định về người bị hại trong trong BLTTHS năm 2003, định nghĩa trên xác định cụ thể, rõ ràng những chủ thể là bị hại trong vụ án hình sự, mở rộng phạm vi chủ thể bị hại không chỉ là cá nhân mà còn bao gồm cả cơ quan, tổ chức có hoặc không có tư cách pháp nhân. Điều này bảo đảm sự thống nhất trong việc xác định tư cách bị hại cũng như bảo đảm quyền lợi chính đáng của bị hại trong quá trình áp dụng pháp luật giải quyết vụ án hình sự. Đặc biệt, khi tổ chức được xác định là bị hại thì tổ chức đó chủ động tham gia vào tố tụng để cung cấp chứng cứ và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ mà họ không cần phải có đơn yêu cầu. Khi tổ chức được coi là bị hại thì đương nhiên họ có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Như vậy thì việc bảo vệ quyền lợi của tổ chức bị hành vi phạm tội gây thiệt hại mới được công bằng, bình đẳng với các chủ thể khác cũng như bảo đảm tính hiệu quả, toàn diện khi giải quyết vụ án hình sự. BLTTHS năm 2015 quy định một số quyền mới của bị hại như Quyền đưa ra chứng cứ của bị hại Bên cạnh quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và yêu cầu như trước đây, BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm “Bị hại có quyền đưa ra chứng cứ”. Quy định này phù hợp với quy định mới về định nghĩa chứng cứ,[4] đồng thời mở rộng quyền của bị hại trong quá trình chứng minh người phạm tội, chứng minh hành vi của người phạm tội, chứng minh những thiệt hại của mình là do hành vi phạm tội gây ra. Thậm chí bị hại có thể đưa ra các chứng cứ để chứng minh cả những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án, đặc biệt là có ý nghĩa trong việc giải quyết quyền lợi của mình như việc giải quyết bồi thường thiệt hại. Quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên tòaCó thể nói đây là quyền rất đặc biệt đối với bị hại. Tước đây, bị hại chỉ tham gia phiên tòa một cách thụ động thể hiện qua quyền được trình bày ý kiến tại phiên tòa và trong thực tế xét xử thì bị hại cũng chỉ trình bày ý kiến khi chủ tọa phiên tòa hỏi. Chủ tọa phiên tòa cũng chủ yếu hỏi về phần thiệt hại và yêu cầu bị hại trình bày ý kiến về mức bồi thường. Với quy định về quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã trao quyền chủ động cho bị hại khi tham gia phiên tòa và nâng cao vị thế tố tụng của bị hại trong quá trình tham gia tố tụng nói chung và tham gia phiên tòa nói riêng. Đồng thời, thông qua quyền này, bị hại có thể truy vấn những vấn đề mà bị hại đặt ra hoặc những nội dung, tình tiết của vụ án mà bị hại thấy rằng việc chứng minh còn chưa khách quan, toàn diện ảnh hưởng đến lợi ích của bị hại. Quyền được tham gia một số hoạt động tố tụng Đây là quyền mới được bổ sung đối với bị hại, thể hiện vị trí và vai trò của bị hại khi họ tham gia tố tụng. Những quy định về quyền của người bị hại trong BLTTHS năm 2003 phản ánh vai trò của bị hại chỉ thực sự được thể hiện trong giai đoạn xét xử, bởi khi đó, bị hại mới thực hiện yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi của mình và thực chất vai trò này cũng tương đối mờ nhạt. Với quyền được tham gia một số hoạt động tố tụng hình sự thì vai trò của bị hại đã được coi trọng hơn. Theo quy định trên, họ có thể được tham gia vào một số hoạt động điều tra của cơ quan điều tra trước đây bị hại chỉ có quyền được thông báo kết quả điều tra, bị hại cũng có thể tham gia vào hoạt động tố tụng của Tòa án như đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên tòa như chúng tôi đã phân tích ở phần trên. Trên cơ sở quyền được tham gia một số hoạt động tố tụng, bị hại chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình như họ có được thông tin từ cơ quan điều tra mà không phải chờ đến khi kết thúc điều tra. Họ được chủ động đưa ra câu hỏi và yêu cầu chủ tọa phiên tòa hỏi chứ không phải chờ đến khi chủ tọa đề nghị cho biết ý kiến. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức rằng việc tham gia một số hoạt động tố tụng của bị hại phải tuân thủ những điều kiện nhất định, chẳng hạn như việc tham gia đó không ảnh hưởng đến tính khách quan, không gây khó khăn và cản trở đến hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân khi bị đe dọạ Bị hại trong TTHS là chủ thể tham gia tố tụng có địa vị pháp lý độc lập, là một bên có quyền cáo buộc đối với bị can, bị cáo. Quyền cáo buộc của họ mang tính chất truy cứu trách nhiệm dân sự trong trường hợp họ yêu cầu bồi thường thiệt hại, bồi hoàn tài sản hoặc những yêu cầu dân sự khác, thậm chí mang tính chất truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp bị hại thực hiện quyền buộc tội trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Chính vì tính chất đối lập như vậy đối với bị can, bị cáo, bị hại có nguy cơ bị đe dọa hoặc bị trực tiếp xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản trong quá trình tham gia TTHS. Để bảo đảm an toàn cho bị hại, BLTTHS năm 2015 quy định thêm quyền rất thiết thực cho bị hại là họ được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ cho họ và người thân của họ khi họ nhận thấy thực sự có nguy cơ bị xâm hại hoặc có căn cứ cụ thể về những hành vi đe dọa họ nhằm gây sức ép hoặc cản trở quyền tố tụng của họ. Việc BLTTHS năm 2015 quy định quyền này có ý nghĩa bảo đảm cho bị hại yên tâm thực hiện các quyền khác khi họ tham gia tố tụng đồng thời đòi hỏi trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc bảo vệ sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tự do, tài sản của bị hại trong suốt quá trình tố tụng. Bên cạnh những điểm mới bổ sung về quyền của bị hại, BLTTHS năm 2015 tiếp tục kế thừa và chỉnh lý một số quyền cơ bản khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bị hại và phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay. Chẳng hạn như quyền đưa ra mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường, được chỉnh lý thành quyền đề nghị hình phạt, đưa ra mức bồi thường, biện pháp bảo đảm bồi thường;[5] quyền yêu cầu khởi tố của bị hại. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 không quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại đối với tội xâm phạm quyền tác giả như BLTTHS năm 2003.[6] Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn sửa đổi quy định về nghĩa vụ của bị hại theo hướng mở rộng và gắn với các biện pháp cưỡng chế nếu vi phạm nghĩa vụ. Ngoài những điểm mới về quyền của bị hại, BLTTHS năm 2015 cũng sửa đổi một số nghĩa vụ của bị hại theo hướng mở rộng trách nhiệm của bị hại trong quá trình tham gia tố tụng, đồng thời gắn liền với đó là các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm nghĩa vụ của bị hại phải được thực thi trên thực tế. Nghĩa vụ phải chấp hành các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.[7] Nghĩa vụ này đòi hỏi bị hại phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thể hiện trong các quyết định tố tụng. Theo quy định tại khoản 4 Điều 51 BLTTHS năm 2003, bị hại không có nghĩa vụ này, họ chỉ có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng mà thôi. Tuy nhiên, với quy định hiện nay, bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải. Bị hại nếu từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo, giám định, cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Xem thêm bài viết về “Vụ án hình sự” Quy định về Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Quy định về Người chứng kiến trong vụ án hình sự – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Quy định về Bị đơn dân sự trong vụ án hình sự – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Quy định về Nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về các tội phạm tham nhũng – TS. Lê Huỳnh Tấn Duy 2. Một số điểm mới về đương sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khái niệm đương sự, kế thừa, chỉnh lý, bổ sung định nghĩa về các chủ thể là đương sự trong vụ án hình sự BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên đưa ra khái niệm về đương sự trong vụ án hình sự “Đương sự bao gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”.[8] Với quy định này, phạm vi đương sự trong vụ án hình sự không bao gồm cả bị hại như quy định trong BLTTHS năm 2003. Mặc dù trong BLTTHS năm 2003 không có điều khoản quy định đương sự trong vụ án bao gồm những chủ thể nào, nhưng thông qua quy định về người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì mọi người đều hiểu đương sự bao gồm người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.[9] Điểm mới này cho thấy, BLTTHS năm 2015 đã xác định đúng bản chất của đương sự, họ là cá nhân, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự; họ nhưng họ có quyền tự định đoạt sự tham gia tố tụng hình sự của họ thời điểm và mức độ tham gia thông qua đơn yêu cầu của họ gửi đến cơ quan tiến hành tố tụng. Còn bị hại là cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp gây thiệt hại, về mặt nguyên tắc, họ tham gia tố tụng hình sự từ khi khởi tố vụ án hình sự phải được các cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp không phụ thuộc vào việc họ có đơn yêu cầu hay không. Với tư cách này, họ không tương đồng với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, lợi ích liên quan. Tinh thần này một lần nữa được thể hiện trong quy định về người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tại Điều 84 BLTTHS năm 2015. Nội dung của điều luật này luôn xác định bị hại và đương sự là hai loại chủ thể khác nhau. Chúng tôi cho rằng khái niệm đương sự trong vụ án hình sự là hợp lý, thể hiện đúng vị trí, vai trò của đương sự. Mặt khác, quy định về đương sự như BLTTHS năm 2015 tương thích với định nghĩa về đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.[10] Cùng với việc đưa ra khái niệm về đương sự, BLTTHS năm 2015 tiếp tục kế thừa, chỉnh lý và bổ sung định nghĩa về nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Theo đó, định nghĩa về nguyên đơn dân sự được giữ nguyên,[11] chỉnh lý định nghĩa về bị đơn dân sự trong vụ án hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. So với định nghĩa bị đơn dân sự quy định tại Điều 53 BLTTHS năm 2003 thì quy định tương ứng trong BLTTHS năm 2015 có sự lược bỏ cụm từ “đối với thiệt hại do tội phạm gây ra”,nhưng không ảnh hưởng đến tinh thần của điều luật. Đặc biệt là BLTTHS năm 2015 đã bổ sung định nghĩa về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Chúng tôi cho rằng đây là sự bổ sung quan trọng, bởi vì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự là chủ thể tham gia tố tụng, họ có thể chủ động tham gia tố tụng khi tự họ nộp đơn yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Họ cũng có thể phải tham gia tố tụng để thực hiện những nghĩa vụ nhất định khi Tòa án đưa họ vào tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. BLTTHS năm 2003 không định nghĩa về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ cụ thể của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Vì vậy, thực tế có một số cách hiểu khác nhau về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự. Có quan điểm cho rằng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người không tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc tham gia vào việc thực hiện tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn phải đưa vào tham gia tố tụng để xử lý theo pháp luật về quyền và nghĩa vụ về tài sản của họ có liên quan đến tội phạm.[12] Quan điểm này nhìn nhận người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự dưới góc độ lợi ích vật chất, yếu tố liên quan ở người có quyền, nghĩa vụ liên quan là tài sản. Có quan điểm khác xem xét dưới góc độ lợi ích bị tác động bởi bản án, quyết định của Tòa án cho rằng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người có quyền lợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định của Tòa án và nên hiểu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án một cách tách biệt trong những trường hợp cụ thể, có trường hợp là người có quyền lợi liên quan đến vụ án, có trường hợp họ là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án và có trường hợp họ là người vừa có quyền lợi vừa có nghĩa vụ liên quan đến vụ án.[13] Điều 65 BLTTHS năm 2015 bổ sung định nghĩa về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”. Sự bổ sung quan trọng này sẽ chấm dứt những cách nhìn nhận khác nhau về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trên cơ sở kết hợp định nghĩa trên với các quy định về quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vai trò và mục đích tham gia tố tụng, có thể hiểu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án một cách thống nhất là chủ thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự nhưng việc giải quyết vụ án hình sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ và được Tòa án chấp nhận xác định họ tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Có thể nói việc quy định khái niệm đương sự và sự kế thừa, chỉnh lý, bổ sung các định nghĩa về nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của BLTTHS năm 2015 đã tạo nên sự thống nhất trong xác định phạm vi cũng như vị trí và vai trò chủ thể là đương sự trong vụ án hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bổ sung một số quyền mới cho đương sự trong vụ án hình sự – Quyền yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật[14] Chúng tôi cho rằng, đây là sự bổ sung cần thiết để bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự. Trước đây, có lẽ với quan điểm cho rằng trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng khi thấy cần thiết trong quá trình chứng minh vụ án. Nguyên đơn dân sự chỉ là chủ thể tham gia và yêu cầu bồi thường của họ sẽ được giải quyết trên những căn cứ mà các cơ quan tiến hành tố tụng đã chứng minh. Bị đơn dân sự bảo vệ quyền lợi của mình theo nội dung đơn kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong phạm vi mà Tòa án yêu cầu, vì vậy không quy định quyền yêu cầu giám định, định giá tài sản cho đương sự. Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng cho thấy, việc trưng cầu giám định của các cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu để chứng minh tội phạm, xác định cấu thành tội phạm và giải quyết bồi thường cho bị hại. Điều này dẫn đến kết luận giám định, định giá tài sản không đủ cơ sở để chứng minh thiệt hại của nguyên đơn, nguyên đơn chủ động gửi đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng bị động về chứng minh thiệt hại. Với sự bổ sung thêm quyền này, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự sẽ chủ động hơn trong quá trình chứng minh thiệt hại của mình để đưa ra mức yêu cầu được bồi thường hợp lý nhất. Ngược lại, bị đơn dân sự cũng chủ động để có căn cứ bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn. Còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có cơ sở để yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền lợi của mình. Mặt khác, việc BLTTHS năm 2015 quy định cho cả nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền này thể hiện sự thừa nhận tính chất bình đẳng trong quan hệ của họ mặc dù quan hệ đó được nảy sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Điều này khẳng định rằng tính chất dân sự trong quan hệ của họ được Nhà nước tôn trọng và được thể chế bằng một quyền tố tụng cụ thể. – Quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình[15] Trong BLTTHS năm 2003, các điều khoản quy định về quyền của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không xác định quyền này, nội dung của quyền này chỉ được thể hiện một phần thông qua quy định về người bảo vệ quyền lợi của đương sự tại khoản 1 Điều 59[16] nhưng vẫn không phản ánh đầy đủ phạm vi của quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ, đặc biệt là tinh thần, tính chất tranh tụng trong việc thực hiện quyền của đương sự. BLTTHS năm 2015 với sự chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung trong các chế định luôn thể hiện tinh thần nâng cao quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp theo hướng tăng cường tranh tụng, bảo đảm quyền bào chữa của người buộc tội, quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ lợi ích của các chủ thể tham gia tố tụng khác. Đương sự là các chủ thể tham gia tố tụng hình sự, họ có lợi ích liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự. Để bảo đảm sự dân chủ, công bằng, khách quan, nâng cao vai trò, vị thế của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, nguyên đơn dân sự có quyền đưa ra những chứng cứ, tài liệu và bằng lý lẽ của mình để chứng minh cho yêu cầu của mình là chính đáng, có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn dân sự cũng có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu và bằng lý lẽ của mình để phủ nhận, bác bỏ những cáo buộc, những yêu cầu của nguyên đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền chứng minh những lợi ích của mình cần phải được tôn trọng và bảo vệ. Nếu như đương sự không đủ tự tin để tự bảo vệ quyền lợi của mình, họ có quyền nhờ người có chuyên môn mà họ tin tưởng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Người có chuyên môn có thể bảo vệ quyền lợi của họ là luật sự, người đại diện, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý.[17] Có thể nói đây là quyền cơ bản, là cơ sở để thực hiện các quyền khác như quyền tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa… Chúng tôi cho rằng nếu các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền này, tính chất tranh tụng tại phiên tòa sẽ được tăng lên đáng kể. Điều này không chỉ hiệu quả đối với với việc giải quyết các quan hệ dân sự phát sinh trong vụ án hình sự mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án hình sự, góp phần giải quyết vụ án được toàn diện và triệt để. – Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ mà pháp luật TTHS quy định cho họ[18] Địa vị pháp lý của đương sự trong TTHS được thể hiện thông qua các quyền và nghĩa vụ được BLTTHS năm 2015 quy định. BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ cho đương sự. Điểm mới này bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của đương sự được thực thi và là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ. Chính vì tầm quan trọng này, ngoài quy định cụ thể ở Điều 63, 64, và 65, BLTTHS năm 2015 còn quy định một nguyên tắc quan trọng là bảo vệ quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Theo nội dung nguyên tắc này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, cho bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền mà BLTTHS năm 2015 quy định.[19] Mặc dù đây chỉ là quyền mang tính chất hình thức tố tụng nhưng lại là cơ sở để triển khai các quyền khác. Nếu đương sự không nắm được và hiểu rõ về các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, họ không thể tham gia tố tụng hình sự một cách chủ động để tự bảo vệ quyền lợi của họ, họ cũng không thể tham gia tranh tụng trong xét xử vụ án để làm rõ sự thật khách quan, họ không thể tự chứng minh tính hợp lý cho yêu cầu của họ. Qua việc bổ sung quyền được thông báo và giải thích về quyền và nghĩa vụ, các đương sự trong vụ án hình sự đã được đối xử bình đẳng với các chủ thể tham gia tố tụng khác. Trước đây chỉ có bị can, bị cáo và bị hại mới có quy định được thông báo và giải thích về quyền và nghĩa vụ. – Bị đơn có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự Đây là một quyền cụ thể được bổ sung riêng cho bị đơn dân sự. BLTTHS năm 2015 quy định quyền này thay thế cho quyền khiếu nại việc đòi bồi thường của nguyên đơn dân sự trong Điều 53 BLTTHS năm 2003. Việc quy định quyền chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu thể hiện đúng bản chất và vai trò tố tụng của bị đơn. Nguyên đơn dân sự tham gia tố tụng với mục đích để được bồi thường thiệt hại. Vì vậy, họ đưa ra yêu cầu bị can, bị cáo hoặc bị đơn dân sự phải bồi thường, đồng thời đưa ra mức bồi thường cụ thể. Bị đơn dân sự tham gia tố tụng hình sự để xác định trách nhiệm bồi thường của mình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Nếu thấy việc yêu cầu của nguyên đơn là hợp lý thì bị đơn có thể chấp nhận, nếu thấy việc yêu cầu bồi thường là không có cơ sở, mức bồi thường không có căn cứ hoặc vượt quá so với thiệt hại thực tế thì bị đơn dân sự có quyền bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉnh lý phân định cụ thể các nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hình sự Trên cơ sở kế thừa các quy định về yêu cầu đặt ra đối với đương sự trong BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa những nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Theo đó, họ có ba nghĩa vụ cơ bản là i có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ii trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ, iii chấp hành các quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Với việc quy định rõ ràng, cụ thể các nghĩa vụ của đương sự, BLTTHS năm 2015 đã xây dựng cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm sự thông suốt trong tiến trình tố tụng ngay cả khi nội dung của vụ án hình sự có những vấn đề dân sự không thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Các đương sự có các quyền mà pháp luật tố tụng quy định để bảo vệ lợi ích chính đáng nhưng đồng thời họ cũng có nghĩa vụ và phải thực hiện các nghĩa vụ đó, nếu không tiến trình tố tụng có thể bị cản trở, việc xử lý vụ án bị kéo dài, tính khách quan bị ảnh hưởng… Xem thêm bài viết về “Điểm mới của Luật” Một số điểm mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 – TS. Nguyễn Mạnh Hùng & ThS. Trương Thị Minh Thùy Một số điểm mới của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 – ThS. Dương Hồng Thị Phi Phi Những điểm mới của chương “Chính phủ” trong Hiến pháp 2013 – TS. Nguyễn Mạnh Hùng Những quy định mới của Hiến pháp 2013 về quyền bào chữa và việc hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 – TS. Lương Thị Mỹ Quỳnh Những điểm mới cơ bản của Hiến pháp nước CHXHCH Việt Nam 2013 – Trương Đắc Linh & TS. Nguyễn Mạnh Hùng 3. Một số yêu cầu trong thực tiễn áp dụng một số điểm mới về bị hại, đương sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Sự chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 trong quy định về bị hại, đương sự theo hướng mở rộng quyền và cụ thể hóa các nghĩa vụ của bị hại, các đương sự là tiến bộ và phù hợp với mục tiêu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích hợp pháp của tổ chức. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi có sự tham gia của bị hại và đương sự thì tất yếu sẽ có những vấn đề dân sự phát sinh cần phải giải quyết. Đó là việc bồi thường những thiệt hại do hành vi phạm tội trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra, là việc hoàn trả lại tài sản bị chiếm đoạt, là việc sửa chữa, khắc phục tài sản bị hư hỏng… Những điểm mới về bị hại và đương sự trong BLTTHS năm 2015 chính là sự hoàn thiện về cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Xuất phát từ các quyền và nghĩa vụ được quy định tương đối đầy đủ, bị hại và các đương sự có quyền đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bảo đảm các quyền đó phải được thực thi trong giải quyết vụ án hình sự để bảo đảm những lợi ích dân sự của họ. Tuy nhiên, theo chúng tôi để bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng quy định của luật TTHS về bảo vệ quyền của bị hại, đương sự thì cần phải có văn bản hướng dẫn, giải thích rõ một số quyền cơ bản sau đây + Đối với quyền đưa ra mức bồi thường, các biện pháp bảo đảm việc bồi thường của bị hại và nguyên đơn dân sự cần phải được hướng dẫn theo hướngmở rộng quyền và cụ thể hóa các biện pháp bảo đảm việc bồi thường. Quyền đưa ra mức bồi thường phải bao gồm các quyền được đưa ra một định mức cụ thể về tài sản được bồi thường, quyền yêu cầu về hình thức, phương thức bồi thường, quyền xác định các loại thiệt hại được bồi thường. Mặt khác, thực tế cho thấy bị hại và nguyên đơn dân sự ít khi yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo đảm việc bồi thường. Điều này xuất phát từ việc bị hại, nguyên đơn dân sự không nắm được quy định của pháp luật về các biện pháp bảo đảm việc bồi thường, chưa có hướng dẫn cụ thể về các biện pháp này. Trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ nhưng những biện pháp này chỉ phù hợp với quan hệ hợp đồng, còn việc bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự là bồi thường ngoài hợp đồng.[20] Vậy các biện pháp bảo đảm sẽ mang tính chất khác, đó là xác định được tài sản của người đã gây ra thiệt hại và cần có các biện pháp để những tài sản đó sẽ được dùng để bồi thường cho người bị hại như phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, kê biên tài sản, hạn chế hoặc cấm việc chuyển nhượng tài sản trong một thời gian nhất định… Vì vậy, theo chúng tôi các biện pháp mang tính đặc thù nói trên phải được hướng dẫn, thể chế hóa thành quyền của người bị hại, nguyên đơn dân sự để họ có cơ sở đề xuất với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ngoài ra, đối với những thiệt hại vể uy tín do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra cho cơ quan, tổ chức, hiện nay chưa có căn cứ để xác định, vì vậy cũng cần phải có hướng dẫn cụ thể đối với thiệt hại về uy tín của cơ quan, tổ chức theo hướng đưa ra căn cứ xác định thiệt hại về uy tín, hình thức xâm hại đến uy tín, mức độ thiệt hại về uy tín, phương thức bồi thường và khắc phục hậu quả thiệt hại về uy tín. Quyền được bồi thường là quyền cơ bản nhất và quan trọng nhất của bị hại, nguyên đơn dân sự, bởi vì quyền này đáp ứng được mục đích, nhu cầu của họ khi tham gia tố tụng hình sự. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải được hướng dẫn cụ thể hóa mới bảo đảm tính khả thi khi áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền được bồi thường của bị hại và của nguyên đơn dân sự. + Đối với quyền được tham gia các hoạt động tố tụng và quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của của bị hại Đây là những quyền mới của bị hại, thể hiện vị trí và vai trò của bị hại được chủ động bảo vệ kịp thời quyền lợi của mình và sự an toàn của bản thân trong quá trình tham gia tố tụng. Tuy nhiên, việc áp dụng quyền này trên thực tế sẽ rất khó khăn nếu không có hướng dẫn cụ thể bởi vì trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự có rất nhiều hoạt động tố tụng, trong đó có các hoạt động đặc thù mang tính chuyên môn, thậm chí là có những hoạt động mang tính bí mật chưa thể công khai để bảo đảm hiệu quả tố tụng. Mặt khác, có những hoạt động tố tụng, bị hại tham gia là cần thiết nhưng cũng có những hoạt động tố tụng bị hại không cần thiết phải tham gia. Vì vậy, chúng tôi thấy cần có quy phạm hướng dẫn quyền này cụ thể theo hướng trong từng giai đoạn tố tụng bị hại được tham gia vào những hoạt động tố tụng cụ thể nào, mức độ tham gia, hình thức tham gia và trách nhiệm nếu cản trở hoạt động tố tụng khi tham gia. Về quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích khi bị đe dọa, để áp dụng cần phải làm rõ các vấn đề sau tính chất nguy hiểm của sự đe dọa đến mức độ nào thì cần có sự bảo vệ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào phải bảo vệ; cách thức bảo vệ như thế nào, bảo vệ về tài sản cần phải phối hợp với cơ quan, tổ chức nào. + Những vấn đề dân sự nảy sinh trong vụ án hình sự luôn mang bản chất của quan hệ dân sự. Vì vậy, chúng tôi cho rằng các chủ thể của quan hệ đó là bị hại, các đương sự có một quyền rất quan trọng và đặc thù là quyền được thỏa thuận, tự định đoạt để giải quyết việc bồi thường, việc hoàn trả tài sản. Tuy BLTTHS năm 2015 không cụ thể hóa quyền này nhưng theo chúng tôi, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thể vận dụng quy định “các quyền khác theo quy định của pháp luật”[21] để hướng dẫn bị hại, các đương sự thực hiện quyền này một cách hiệu quả nhất. – Đối với nghĩa vụ của đương sự, chúng tôi cho rằng việc quy định theo hướng phân định rõ ràng cụ thể từng nghĩa vụ là hợp lý. Tuy nhiên, việc chỉ quy định nghĩa vụ nhưng không gắn trách nhiệm cụ thể của đương sự khi không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ sẽ dẫn đến việc bảo đảm sự tuân thủ nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hình sự trở nên khó khăn. Vì vậy, nên chăng cũng cần quy định thêm các chế tài khi đương sự không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ và gây khó khăn, trở ngại cho cơ quan tiến hành tố tụng. Bị hại, đương sự là những chủ thể tham gia tố tụng hình sự, việc tham gia tố tụng của họ là nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời là nhân tố góp phần quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xác định sự thật khách quan của vụ án. Sự chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung của BLTTHS năm 2015 trong quy định về bị hại, đương sự đã thể hiện tinh thần bảo đảm nâng cao quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, là cơ sở pháp lý để giải quyết toàn diện vụ án hình sự, nhất là giải quyết vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự./. Xem thêm bài viết về “Bộ luật Tố tụng hình sự 2015” Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi trên cơ sở hướng dẫn của Liên hợp quốc về tư pháp phục hồi – TS. Lê Huỳnh Tấn Duy Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Phân tích các quyền và nghĩa vụ của Người bào chữa theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Lựa chọn người bào chữa theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 – ThS. LS. Phạm Quang Thanh Những nội dung mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về bảo vệ quyền con người và quyền công dân trong tố tụng hình sự – TS. Hoàng Anh Tuyên CHÚ THÍCH * TS. Luật học, Trưởng Khoa Luật Hình sự, Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh. ** ThS. Luật học, P. Trưởng Bộ môn NVCB – Trường ĐH Cảnh sát nhân dân. [1] Vũ Gia Lâm, “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật họcsố 11/2011, tr. 29. [2] Lê Nguyên Thanh, “Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam” Luận án tiến sĩ luật học, Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, 2012, tr. 27. [3] Khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015. [4] Xem Điều 86 BLTTHS năm 2015. [5] Điểm g, khoản 2 Điều 62 BLTTHS năm 2015. [6] Khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015 và khoản 1 Điều 133 BLTTHS năm 2003. [7] Xem khoản 4 Điều 62 BLTTHS năm 2015. [8] Điểm g, khoản 1, Điều 4 BLTTHS năm 2015. [9] Điều 59 BLTTHS năm 2003 “Người bảo vệ quyền lợi của đương sự Khoản 1. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình”. [10] Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 “Đương sự là cơ quan tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. [11] Xem khoản 1 Điều 52 BLTTHS năm 2003 và khoản 1 Điều 63 BLTTHS năm 2015. [12] Vũ Mạnh Thông, Nguyễn Ngọc Điệp, Bình luận bộ luật tố tụng hình sự,Nxb. Lao động- Xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 64. [13] Phan Thanh Tùng, Một số vấn đề về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự [ Truy cập ngày 06/06/2016 [14] Xem Điểm đ, khoản 2 Điều 63; điểm đ, khoản 2 Điều 64 và điểm c khoản 2 Điều 65 BLTTHS năm 2015. [15] Xem điểm i, khoản 2 Điều 63 và điểm i khoản 2 Điều 64 BLTTHS năm 2015. [16] Khoản 1 Điều 59 BLTTHS năm 2003 quy định “Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình”. [17] Xem khoản 2 Điều 84 BLTTHS năm 2015. [18] Xem điểm a, khoản 2, Điều 63 và điểm a, khoản 2, Điều 64 BLTTHS năm 2015. [19] Điều 16 BLTTHS quy định “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họtheo quy định của Bộ luật này”. [20] Khoản 1 Điều 381 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định“Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quỹ; bảo lãnh; tín chấp”. [21] Điểm o, khoản 2 Điều 62; điểm m, khoản 2 Điều 63; điểm m, khoản 2 Điều 64 và điểm i khoản 2 Điều 65 BLTTHS năm 2015. Tác giả TS. Võ Thị Kim Oanh & ThS. Ngô Quang Cảnh Nguồn Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 09103/2016 – 2016, Trang 66-73 Nguồn Fanpage Luật sư Online
Đương sự trong vụ án hình sự là ai? Đương sự có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm hay không? - Câu hỏi của anh Khá tại Thái Bình. Đương sự trong vụ án hình sự là ai? Đương sự có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm hay không? Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đồng thời là đương sự trong vụ án hình sự thì xử lý như thế nào? Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hình sự là ai? Đương sự trong vụ án hình sự là ai?Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy địnhĐương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình đó, đương sự trong vụ án hình sự bao gồm guyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Cụ thể- Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, khoản 1 Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khoản 1 Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, khoản 1 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự sự trong vụ án hình sự là ai? Đương sự có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm hay không? Hình từ InternetĐương sự có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm hay không?Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sauNgười có quyền kháng cáo1. Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có đó, đương sự trong vụ án hình sự là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự thì có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt sự trong vụ án hình sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, thì có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của có thẩm quyền tiến hành tố tụng đồng thời là đương sự trong vụ án hình sự thì xử lý như thế nào?Căn cứ Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sauCác trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụngNgười có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp1. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;2. Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm đó, nếu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đồng thời là đương sự trong vụ án hình sự thì người này phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đó, trường hợp người tiến hành tố tụng đồng thời là đương sự trong vụ án hình sự thì phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hình sự là ai?Căn cứ Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sauNgười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể làa Luật sư;b Người đại diện;c Bào chữa viên nhân dân;d Trợ giúp viên pháp Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyềna Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;b Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;c Yêu cầu giám định, định giá tài sản;d Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ; đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của bị hại và đương sự sau khi kết thúc điều tra;đ Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa;e Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;g Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;h Kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có nghĩa vụa Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án;b Giúp bị hại, đương sự về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vậy Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hình sự là người được đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể là- Luật sư;- Người đại diện;- Bào chữa viên nhân dân;- Trợ giúp viên pháp lý. Đi đến trang Tìm kiếm nội dung Tư vấn pháp luật - Đương sự 393 lượt xem Lưu bài viết Bài viết này có hữu ích với bạn không?
Cho tôi hỏi trong vụ án hình sự thì việc lấy lời khai của đương sự sẽ được thực hiện như thế nào vậy? Giấy triệu tập đương sự đến để lấy lời khai có thể được giao cho những ai vậy? Hay bắt buộc phải giao trực tiếp cho đương sự. - Anh Huy Hùng Kiên Giang. Có thể giao giấy triệu tập đương sự cho những ai? Việc lấy lời khai của đương sự trong vụ án hình sự được thực hiện như thế nào? Nếu có mâu thuẫn trong lời khai của nhiều người thì cần phải làm gì? Có thể giao giấy triệu tập đương sự cho những ai?Căn cứ theo Điều 188 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về việc triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự như sauTriệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sựViệc triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự được thực hiện theo quy định tại các điều 185, 186 và 187 của Bộ luật lấy lời khai của bị hại, đương sự có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm chiếu đến Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về việc triệu tập người làm chứng như sauTriệu tập người làm chứng1. Khi triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi giấy triệu Giấy triệu tập người làm chứng ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như saua Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận. Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;b Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện khác của họ;c Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này và Luật tương trợ tư Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập người làm chứng để lấy lời khai. Việc triệu tập người làm chứng được thực hiện theo quy định tại Điều đó, việc triệu tập đương sự được thực hiện tương tự như với việc triệu tập người làm chứng. Vì vậy, giấy triệu tập đương sự cũng sẽ được giao theo như quy định trên đây, cụ thể- Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho đương sự hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi đương sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập;- Đương sự là người dưới 18 tuổi thì giấy triệu tập được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện khác của họ;- Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này và Luật tương trợ tư lời khai của đương sự Hình từ InternetViệc lấy lời khai của đương sự trong vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?Theo Điều 188 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, việc lấy lời khai của đương sự trong vụ án hình sự sẽ được thực hiện tương tự như khi lấy lời khai của người làm chứng, cụ thể như sau- Việc lấy lời khai đương sự được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người Nếu vụ án có nhiều đương sự thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho đương sự biết quyền và nghĩa vụ của họ. Việc này phải ghi vào biên Điều tra viên yêu cầu đương sự trình bày hoặc tự viết một cách trung thực và tự nguyện những gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai đương sự. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy định tại Điều có mâu thuẫn trong lời khai của nhiều người thì cần phải làm gì?Căn cứ theo Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về việc đối chất trong vụ án hình sự như sauĐối chất1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối Nếu có người làm chứng hoặc bị hại tham gia thì trước khi đối chất Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Sau khi nghe đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai trước đó của họ....Theo đó, nếu như có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên có thể sẽ tiến hành đối chất giữa những người đó. Việc đối chất được thực hiện theo quy định trên đây.
đương sự trong vụ án hình sự