🎮 Những Người Vợ Nhớ Chồng Còn Góp Cho Đất Nước
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái ……………………………………………………….. Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước (Trích "Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm) Đề số 17 Câu I (2,0 điểm) Nêu ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Câu 14: Cảm hứng sáng tác của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ? - " Đất nước và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên….Vì thế tôi viết Truyện Tây Bắc" Lời tâm sự thiết tha của Tô Hoài đã khẳng định : truyện ngắn
Nhiều người Việt không đủ tài chính cho tuổi già. Vợ chồng anh Quang, chị Huệ thuê nhà trọ sống 17 năm gần khu công nghiệp Cát Lái (TP Hồ Chí Minh), không đủ tài chính để chuẩn bị cho cuộc sống về già. Trong một khu nhà trọ trên đường Nguyễn Thị Định, gần Khu công
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp thêm hòn Trống Mái Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định… hòn Trống Mái ở sầm Sơn không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của
Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi vọng phu đời đã hóa núi sông ta nhận xét cách sử dụng chất liệu của văn hóa dân gian của nhà thơ Nguyễn khoa điềm Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ những người
Tuyển tập những câu thơ tán trai hài hước, thính crush dính ngay dưới đây: "Anh ơi, hoa nào rồi cũng lụi Bụi nào rồi cũng bay Nhưng tình em còn mãi Trao cho riêng mình chàng." "Anh cười một phút lòng xao xuyến Cười thêm phút nữa nắng cháy lòng Sao anh không học bài vỡ lòng Cười nhiều em còng tay đấy nhé!" "Em thích ngân hà đầy sao
Được biến đến là anh cả của các startup và bước ra từ chương trình Shark Tank phiên bản Việt, doanh nhân Nguyễn Hòa Bình (hay còn được gọi là Shark Bình) luôn được mọi người ngưỡng mộ nhờ khối gia sản khủng cùng với những quan điểm thú vị về quá trình khởi nghiệp của bản thân. Đáng chú ý, chia sẻ
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Những người dân nào đã góp nên tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm" Đất nước trở thành sự sống máu thịt vô cùng thiêng liêng đối với mỗi người tuy chỉ có một phần nhưng đó là linh
Là người có gia đình riêng, có vợ, có các con trai, con gái và các cháu nội ngoại nhưng ông Kiệt vẫn được mọi người nhìn nhận là "người của nhiều người". Cái cách ông thương yêu những người ruột thịt là quan tâm đến họ rất nồng ấm nhưng luôn tìm cách hướng
W2CG. Bài văn mẫu lớp 12Những bài văn mẫu hay lớp 12Văn mẫu lớp 12 Bình giảng đoạn thơ sau "Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước... Những cuộc đời đã hoá núi sông ta" được VnDoc sưu tầm và giới thiệu cho các em học sinh cùng quý thầy cô tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham giảng đoạn thơ sau "Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước... Những cuộc đời đã hoá núi sông ta"Hình ảnh đất nước đã khơi nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao thi sĩ cách mạng để sáng tạo nên những vần thơ đẹp tuyệt vời. Chế Lan Viên nhìn suốt chiều dài lịch sử oanh liệt để khẳng định "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?". Lê Anh Xuân đã tạc vào thơ một dáng đứng Việt Nam với hình ảnh "Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân". Tố Hữu với hình ảnh đất nước sáng ngời "Ôi! Việt Nam từ trong biển máu. Người vươn lên như một thiên thần". Với chương Đất Nước trong Mặt đường khát vọng 1974, Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên những cảm nhận sâu sắc về đất nước, về nhân dân, về dân tộc và trách nhiệm lớn lao của tuổi trẻ Việt Nam trước non sông đất nước qua những vần thơNhững người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng PhuCặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống MáiGót ngựa Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lạiChín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng VươngNhững con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳmNgười học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non NghiênCon cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnhNhững người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi đất nước sau 4000 năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hoá núi sông taĐất Nước của Nhân dânNhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 ở Thừa Thiên Huế là con nhà phê bình văn học Hải Triều, một nhà phê bình xuất sắc đã từng chủ trì lý thuyết "nghệ thuật vị nhân sinh" trong cuộc tranh luận với Hoài Thanh 1936-1939. Đất Nước được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng 1974. Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ sinh viên các đô thị tạm chiếm ở miền Nam trước 1975 trước vận mệnh hiểm nghèo của đất nước; kêu gọi họ hướng về nhân dân mà xuống đường đấu tranh hòa nhập với cuộc kháng chiến của toàn dân tộc. Trong các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tưởng, xúc cảm dồn nén, thể hiện một chiều sâu văn hoá, đặc trưng của thế hệ các nhà thơ thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã có một hành trang văn hoá chuẩn bị khá chu đáo trước khi bước vào chiến Đất Nước khai triển có vẻ phóng túng tự do như một thứ tùy bút thơ, nhưng thực ra tứ thơ vẫn tập trung thể hiện tư tưởng Đất Nước của Nhân dân qua các bình diện chủ yếu, đó là đất nước trong chiều dài thời gian lịch sử, đất nước trong chiều rộng không gian lãnh thổ địa lý, đất nước trong bề sâu truyền thống văn hoá, phong tục, lối sống tâm hồn cốt cách dân tưởng “Đất Nước của Nhân dân” là một tư tưởng rất tiến bộ của thơ ca thời đại cách mạng. Đoạn trích bình giảng trên đây đã thể hiện một cách sâu sắc và cụ thể sự "hoá thân" của nhân dân vào đất nước muôn nói lên công lao to lớn của nhân dân trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhà thơ đã nhắc đến những danh lam thắng cảnh, những tên đất tên làng trên mọi miền đất nước từ Bắc chí Nam. Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn thấy hình sông, thế núi là sự kết tinh đời sống tâm hồn của nhân dân. Xuất phát từ quan niệm của nhà Phật hóa thân, tác giả đã trình bày những cảm xúc suy tưởng của mình chính nhân dân đã hóa thân thành đất nước "hóa thân cho dáng hình xứ sở", làm nên đất nước vĩnh hằng. Những danh lam thắng cảnh không còn là những cảnh thú thiên nhiên thuần tuý nữa mà đã được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hoá thân của những con người không tên, không nghệ thuật sâu sắc, từ ngữ giàu hình ảnh gợi cảm, tác giả đã viết lên những hình tượng sinh động, giàu sức khái quát. Từ hình sông, thế núi, từ truyền thống, tác giả đã tạo nên những liên tưởng độc đáo thú vị, giúp người đọc cảm nhận công lao to lớn của nhân dân tròng quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng VươngTư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”, khiến cho những địa danh ngàn đời của Tổ quốc, qua cái nhìn sắc sảo đầy khám phá của nhà thơ chính là sự hoá thân của những con người bình dị vô danh "Những con người không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ đã làm ra Đất Nước"."Những người vợ.... hòn Trống Mái" Những địa danh, những hình sông thế núi mang hồn người, linh hồn dân tộc. Chúng là sự tượng hình, kết tinh đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân mang đậm chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam. Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái là kết tinh của tình yêu chung thuỷ của biết bao người vợ chờ chồng trong chiến tranh liên miên, của sự gắn kết muôn đời, bất chấp mọi sự bão tố của thời gianKhông hóa thạch kẻ ra đi mà hóa thạch kẻ đợi chờĐợi một dáng hình trở lại giữa đơn côi Tác giả không chỉ chiêm ngưỡng những hình ảnh núi Bút, non Nghiên mà còn nhìn ra trong đó phẩm chất, truyền thống hiếu học của dân tộc ta từ bao đời nay. Những núi Bút non Nghiên phô bày vẻ đẹp mỹ lệ giữa đất trời nước Việt hay là hình tượng những người học trò nghèo đã gửi gắm quyết tâm, ước vọng của mình vào đây?Người học trò nghèo... non NghiênNhà thơ đã tìm về cội nguồn để cảm nhận sâu sắc dáng hình đất nước. Những hình ảnh thân thuộc của non sông đất nước gợi lên quá khứ hào hùng với truyền thống đánh giặc ngoại xâm oanh liệt của nhân dân ta với truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, với sự nghiệp dựng nước đầy gian lao của Vua HùngGót ngựa Thánh Gióng... đất tổ Hùng VươngCho đến "những con rồng nằm im" cũng góp phần làm nên "dòng sông xanh thẳm"; con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh". Và cả những địa danh thật nôm na bình dị "Những Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm". Nguyễn Khoa Điềm đã đặt cái nhìn trân trọng của mình vào nhân dân không tên không tuổi "những người dân nào" không ai biết cũng làm nên tên núi, tên sông, và tất cả những cái bình thường trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân cũng hoá thân thành dáng hình xứ khái quát của hình tượng thơ cứ được nâng dần lên. Đó là một hình dáng của tư thế, truyền thống Việt Nam, truyền thống văn hiến của dân tộc có 4000 năm lịch sử. Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi, chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông tượng thơ càng được nâng dần lên và chốt vào một câu đầy trí tuệÔi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hoá núi sông taĐoạn thơ có kết cấu chặt chẽ, tự nhiên và được viết theo thể tự do, câu thơ mở rộng kéo dài nhưng không nặng nề mà biến hoá linh hoạt làm cho đoạn thơ giàu sức biểu hiện và sức khái quát cao. Đó là hình ảnh Đất Nước của Nhân dân - Nhân dân đã hoá thành đất nước. Bởi trên khắp ruộng đồng, gò, bãi, núi, sông đâu đâu cũng là hình ảnh của văn hoá, của lịch sử, của đời sống tâm hồn, cốt cách của Việt đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 12 Bình giảng đoạn thơ sau "Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước... Những cuộc đời đã hoá núi sông ta". Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 12 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến Quang Dũng Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa... Trôi dòng nước lũ hoá đong đưa
Phân tích đoạn thơ “Những người vợ nhớ chồng… hóa núi sông ta” Nguyễn Khoa Điềm Mở bài Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” trước hết được thể hiện qua sự biết ơn sâu nặng của nhà thơ đối với nhân dân đã “góp” cuộc đời mình, tuổi tên của mình, số phận mình để hóa thân thành những địa danh, thắng cảnh. Những địa danh, thắng cảnh ấy gắn với cuộc sống, số phận, tính cách của nhân dân “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình cho đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…” Thân bài Trước hết, ta có thể thấy, nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật liệt kê liệt kê những địa danh, sử dụng động từ “góp” để diễn tả hình ảnh của nhân dân hóa thân thành những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp cho Đất Nước. Các danh thắng ấy được nhà thơ liệt kê từ Bắc đến Nam, đâu đâu cũng mang bóng dáng nhân dân. Ở miền Bắc, danh thắng ấy hiện lên với núi Vọng Phu, hòn Trống Mái biểu tượng cho vẻ đẹp của tình yêu thủy chung bền vững. Hòn Vọng Phu nay vẫn còn ở Lạng Sơn gắn liền với tích nàng Tô Thị bồng con chờ chồng hóa đá. Hòn Trống Mái ở Sầm Sơn, Thanh Hóa, tương truyền do hai vợ chồng yêu nhau hóa thân thành. Thời gian trôi qua, những vẻ đẹp thủy chung, nghĩa tình đã bất tử. Đó còn là vẻ đẹp người anh hùng làng Gióng với chứng tích “ao đầm ” hình móng chân ngựa mọc đầy quanh chân núi Sóc Sơn Hà Nội. Đó là quần thể núi non hùng vĩ “chín mươi chín con voi” bao quanh núi Hi Cương Phú Thọ nơi đền thờ vua Hùng ngự trị. Đó là “con cóc con gà quê hương góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”. Tất cả nhằm nhắc nhở chúng ta nhớ về truyền thống đánh giặc giữ nước, công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước của cha ông. Cảm nhận hình ảnh đất nước trong đoạn trích “Đất nước” trích Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm Phân tích tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” trong đoạn trích Đất nước trích “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm Ở miền Trung, nhà thơ đưa ta về với vùng đất Quảng Ngãi để chiêm ngưỡng “núi Bút, non Nghiên” do cậu học trò nghèo dựng nên. Đó là biểu tượng của truyền thống hiếu học của nhân dân đã góp cho đất nước bao tên tuổi. Ở miền Nam, danh thắng là con sông Cửu Long hiền hòa, tươi đẹp “Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm”. Là những người dân hiền lành, chăm chỉ góp nên “tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân”. Đó là “Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”. Bốn câu thơ cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát sự hóa thân của Nhân Dân vào bóng hình Đất Nước. Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, khắp mọi miền đất nước này “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi! Đất Nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta” Hai câu đầu là khẳng định dáng hình của Nhân Dân trong không gian Đất Nước “trên khắp ruộng đồng gò bãi”. Bóng hình ấy của nhân dân không chỉ làm cho đất nước thêm phần tươi đẹp mà còn mang “một ao ước, một lối sống cha ông”. Nghĩa là nhân dân không chỉ góp danh lam thắng cảnh, mà còn góp vào đó những giá trị tinh thần, là phong tục, tập quán, là truyền thống văn hóa lưu dấu tới mai sau. Hai câu cuối, hình tượng thơ được nâng dần lên và chốt lại bằng một câu đầy trí tuệ “Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”. “Núi sông ta” sỡ dĩ có được là nhờ “những cuộc đời” đã hóa thân để góp nên. Nhân Dân không chỉ góp tuổi, góp tên mà còn góp cả cuộc đời và số phận mình. Ý thơ giản dị mà sâu sắc khiến ta hình dung Đất Nước thật gần gũi và thân thuộc. Đoạn thơ có kết cấu chặt chẽ, tự nhiên được viết theo thể thơ tự do. Câu thơ mở rộng kéo dài, biến hóa linh hoạt tạo cho đoạn thờ giàu sức gợi cảm và khái quát cao. Thủ pháp liệt kê địa danh, nhà thơ luôn viết hoa hai chữ Đất Nước thể hiện sự thành kính thiêng liêng. Động từ “góp” được nhắc lại nhiều lần. Tất cả làm nên đoạn thơ hay về đất nước. Kết bài Pau-top-xki đã từng nói “Niềm vui của nhà thơ chân chính là niềm vui của người mở đường đến với cái đẹp”. Và phải chăng Nguyễn Khoa Điềm đã tìm thấy được niềm vui ấy khi mở đường đến với cái đẹp của tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”.
Sự thể hiện tư tưởng Đất Nước của Nhân dân trong phần thứ hai của đoạn trích Đất Nước trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, từ câu “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu” đến ý chi tiết1. Mở bài– Giới thiệu về Nguyễn Khoa Điềm và đoạn trích Đất Nước trường ca Mặt đường khái vọng.– Nêu vấn đề Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được thể hiện rõ nét và sâu sắc trong phần thứ hai của đoạn trích Đất Thân bài– Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân trong phần sau của đoạn trích Đất Nước đã được thể hiện một cách khá tập trung, sâu sắc qua hệ thống “lập luận” bằng kết cấu, hệ thống hình ảnh, suy tưởng của tác giả cũng như giọng điệu thơ.+ Về nội dung cảm hứng Có thể thấy rõ tác giả có ý thức xây dựng một hệ thống lập luận nhằm chứng minh cho tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Chẳng hạn Hãy nhìn vào thiên nhiên sông núi để thấy đất nước do nhân dân hoá thân mà thành Những người vợ nhớ chổng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu – Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái – Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại – Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương – Những con rồng nằm im góp dòhg sông xanh thẳm – Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên – Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh – Những người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm – Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi – Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha – Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy – Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…, nhìn vào lịch sử để thấy đất nước do nhân dân cá’c anh hùng hữu danh và vô danh bao đời nay gây dựng nên Em ơi em -Hãy nhìn rất xa – Vào bốn nghìn năm Đất Nước…’, nhìn vào văn hoá vật chất và tinh thần để thấy đất nước do nhân dân sáng tạo, hun đúc nên Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng – Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi – Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói -Họ gánh theo tên xã, tên là nọ trong mỗi chuyến di dân – Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái – Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm – Có nội thù thì vùng lên đánh bại -ĐểĐất Nước này là Đất Nước Nhân dân -Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại – Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi” – Biết quýcông cầm vàng những ngày lặn lội – Biết trồng tre đợi ngày thành gậy – Đi trả thù mà không sợ dài lâu.+ Về chất liệu nghệ thuật Có thể thấy tác giả rất có ý thức và cũng rất khéo léo trong việc khai thác vốn văn hoá nghệ thuật của nhân dân tục ngữ, ca dao, truyện cổ, tập quán dân gian, lời ăn tiếng nói của nhân dân,…– Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân trong phần sau của đoạn trích Đất Nước là một phát hiện đồng thời là một đóng góp có giá trị của Nguyễn Khoa Điềm cả vềquan niệm và cách thể hiện. Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân là một nhận thức đã thấm sâu, chi phối mạnh mẽ mọi khía cạnh và làm nên một nét đặc trưng của cảm hứng về đất nước trong văn học Việt Nam hiện Kết bàiCảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về đoạn trích.
những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước