🍻 Lễ Hội Dinh Cô Vũng Tàu
Cách Dinh Cô khoảng 1 km là nơi chôn cất - Mộ Cô trên đồi Cô Sơn. Vào ngày 10 - 12/2 âm lịch, người dân tổ chức lễ hội cúng Cô cầu đi biển bình an và đánh bắt được nhiều tôm cá.
Bán nhà đường Đinh Tiên Hoàng, P2, TP. Vũng Tàu. + Diện tích 67m² thổ cư. (Thực tế 80m²). + Ngang 4,64m nở hậu. + Nhà 1 trệt 2 lầu xây ở mới chắc chắn, nhà đẹp 3 phòng ngủ, 4 Wc, cách hẻm oto 20m. + Ngay trung tâm thành phố, đang cho thuê 8tr/ 1 tháng. + Đi bộ vài bước đến chợ Xóm lưới, đi bộ 3p đến biển. + Giá
Danh sách lễ hội và tin tức lễ hội ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Các bài viết về Lễ hội thường niên tại Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mới nhất. Cac bai viet ve le hoi o Ba Ria - Vung Tau moi nhat. Lễ hội Dinh Cô được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 10 cho đến hết ngày 12 tháng
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Lễ công bố thành lập thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Thái Nguyên Thị Xã Phổ Yên. 3 tin mới . 09-10-2022 . 22:12 'Phổ Yên nỗ lực để xứng tầm động lực phát triển của tỉnh Thái Nguyên'
Ngày 9/10, Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp với phòng CSHS Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu điều tra nguyên nhân vụ án giết người nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn xã Sơn Bình. Theo PLO, khoảng 15h30 cùng ngày, Phạm Thành (50 tuổi) đi từ nhà tại ấp Tân
Nằm bên bờ biển của thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Dinh Cô là một địa điểm tâm linh tiếng linh thiêng của khu vực Đông Nam Bộ. Theo các tư liệu lịch sử, ban đầu Dinh chỉ là một ngôi miếu nhỏ đơn sơ, được lập ra vào cuối thế kỷ 18
Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thông báo tạm dừng tổ chức Lễ hội Dinh Cô - Long Hải năm 2021 - UBND Phường Vĩnh Nguyên GIỚI THIỆU Giới thiệu chung Tổ chức bộ máy Đảng ủy HĐND & UBND Mặt trận - Đoàn thể Tổ dân phố Danh lam, thắng cảnh TIN TỨC Tin nổi bật Thông báo COVID-19 CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH Văn bản chỉ đạo Kinh tế - Xã hội
Ngày 17-9, UBND huyện Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) cho biết đã nắm vụ việc giáo viên đánh học sinh xảy ra tại Trường Tiểu học Bàu Lâm (xã Bàu Lâm) và yêu cầu các đơn vị liên quan báo cáo vụ việc. Trước đó, ngày 16-9, một tài khoản facebook đã đăng tải hình ảnh
Ban hội làng viết thư này mong muốn được đón tiếp sự có mặt đông đủ của bà con, dâu rể ở Hải ngoại nói chung và bà con đang sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh, các vùng phụ cận về thăm quê hương trong dịp lễ tế Kỳ Phước và dự đại lễ khánh thành vào ngày 16,17
DFuOl8. Nổi bật với lối kiến trúc pha lẫn cổ điển và hiện đại Dinh Cô Vũng Tàu nằm bên bờ biển thuộc địa phận thị trấn Long Hải, Long Điền, Bà Rịa - Vũng Tàu, Dinh Cô còn được biết đến là một một công trình mang đậm nét văn hóa di tích lịch sử bản sắc dân tộc Việt Nam qua người dân đi biển tại đây. Lễ hội Dinh Cô tổ chức vào ngày 10, 11 và 12 tháng 2 âm lịch hàng năm. Ngày 16 tháng 1 năm 1995 nhà nước Việt Nam đã công nhận Dinh Cô là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia theo quyết định số 65QĐ/BT. Xem hướng dẫn đường đi Dinh Cô Vũng Tàu bằng Google Maps. Giới thiệu - thuyết minh về lịch sử hình thành Dinh Cô Theo các thông tin truyền miệng và ghi chép lịch sử còn để lại khi mới xây dựng vào khoảng thế kỷ 18 Dinh Cô chỉ là một ngôi miếu nhỏ đơn sơ để thờ một cô gái trẻ tên gọi là Lê Thị Hồng tên thường gọi Thị Cách. Câu chuyện kể rằng cô gái này là một người quê quán ở Tam Quan thuộc tỉnh Bình Định, trong một lần đi biển thì cô bị lâm nạn trên biển và xác chết dạt vào bờ ngay tại Hòn Hang một địa điểm gần Dinh Cô hiện tại. Khi mất cô còn khá trẻ chỉ 16 tuổi, người dân địa phương phát hiện và đem xác cô vào chôn cất trên đồi Côn Sơn và kể từ đó nhiều điều may mắn bình an đã đến với dân làng như bệnh dịch tiêu tan, báo mộng cho dân làng những điềm lành, phù hộ độ trì cho ngư dân đánh bắt nên người dân đã thờ cúng và tôn xuân cô làm "Long Hải Thần Nữ Bảo An Chánh Trực Nương Nương Chi Thần". Vào năm 1930 người dân địa phương đã làm lễ xin phép rồi dời miếu thờ của cô lên đồi Kỳ Vân cho đến bây giờ. Năm 1987 Dinh Cô bị cháy nên được người dân xây dựng lại khá lớn, tiệp túc năm 2006 đến 2007 Dinh Cô lại được trùng tu thêm nhiều công trình phục vụ thờ cúng. Dinh Cô Vũng Tàu là một quần thể chùa có giá trị vô giá. Lịch sử, kiến trúc và văn hóa của nó rất hấp dẫn và sẽ khiến hành trình của bạn không thể nào quên. Dinh Cô Vũng Tàu là một ngôi chùa độc đáo và thanh lịch, hoàn hảo cho du khách tìm kiếm kiến trúc cổ xưa và các khái niệm hiện đại. Dinh Cô Vũng Tàu là một quần thể chùa pha trộn giữa kiến trúc cổ kính và truyền thống với thiết kế hiện đại. Với những bức tường hùng vĩ, khu vườn xinh đẹp và bầu không khí thanh bình, đây là nơi lý tưởng để đưa tâm hồn con người đến sự bình yên. Dinh Cô Vũng Tàu là một di tích mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Dinh Cô là biểu tượng của ngư dân Việt Nam và màu xanh ngọc trong đá phản chiếu màu xanh ngọc của biển, được cho là mang lại may mắn. Dinh Cô Vũng Tàu là một di tích mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Di tích này là một yếu tố quan trọng đối với di sản văn hóa của Việt Nam. Đối tượng trực tiếp của di tích này là ngư dân địa phương, những người làm công việc hàng ngày, rất quen thuộc với vùng biển xung quanh Vũng Tàu. Kiến Trúc Dinh Cô Vũng Tàu Khi đến thăm Dinh Cô một địa điểm du lịch Vũng Tàu tâm linh du khách sẽ phải bước qua cổng tam quan bên trên chạm khắc những thần thú uy nghiêm để canh cổng, bước qua 37 bậc tam cấp sẽ đến được điện thờ chính. Toàn bộ diện tích của Dinh Cô nằm trên mét vuông cổng tam quan để bước vào dinh nằm dưới chân của mũi Thùy Vân, điểm nhấn đặc biệt khi bước vào là tượng Cô với chiều cao hơn 0,5m khoác lên mình chiếc áo choàng màu đỏ được trang điểm bằng viền kim tuyến óng ánh, trên đầu đội mão gắn ngọc. Cạnh đó là bàn thờ của Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu Nhị vị Công tử, tức là Cậu Tài, Cậu Quý, Ngũ Hành Nương Nương, Tứ Pháp Nương Nương Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, Ông Địa, Thần Tài. Bên ngoài ngư dân địa phương còn lập thêm nhiều bàn thờ để thờ cúng các vị như Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương Nương, Chư vị, Bà Mẹ Sanh, Tiền hiền, Hậu hiền,...và các miếu thờ Hỏa Tinh Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Quan Thế m Bồ Tát,... Lễ hội Nghinh Cô hay còn được biết là lễ hội vía Cô được tổ chức vào ngày 10-11-12 và tháng 2 âm lịch theo nghi thức truyền thống với mong muốn cầu cho mưa thuận gió hòa quốc thái dân an...được người dân địa phương và nhiều du khách hành hương đến cúng viếng và chiêm bái. Sau khi tham quan Dinh bạn đừng quên ghé đốt nhang cho mộ cô nằm trên đồi Côn Sơn bên cạnh bờ biển cách cách dinh khoảng 1 km. Có thể bạn quan tâm
Ngày ông Lâm Văn Hồng, Chủ tịch UBND Điền Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết lễ hội Dinh Cô Long Hải Hải đã được Bộ VH-TT-DL công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc cúng trong lễ hội Dinh Cô Long HảiCTVĐây là một trong những lễ hội lớn ở vùng biển Nam bộ, tổ chức tại Dinh Cô, nằm dưới chân núi Thùy Vân, Hải. Lễ hội diễn ra từ ngày 10 - Âm lịch hàng năm, thu hút hàng chục ngàn ngư dân và du khách đến tham ngày chánh lễ 10 và các ghe thuyền kết hoa đăng bên bờ biển, hướng mũi vào Dinh Cô. Đến sáng sớm các ghe thuyền quay hướng ra biển làm lễ Nghinh Cô. Một chiếc ghe của ngư dân được chọn dẫn đầu, trên có ngai, long vị Cô cùng các vị trong ban nghi lễ, các bô lão cao niên với lễ phục trang nghiêm và đội lân sư rồng. Đoàn ghe thuyền nối nhau ra khơi trong tiếng trống, đi khoảng 2-3 hải lý, đến khu vực nơi Cô tử nạn ngày xưa, ông Chánh bái bắt đầu nghi lễ rước Cô cùng các vị thần linh, ông bà tổ tiên cùng về dinh ăn 3 ngày này ở lễ hội Dinh Cô, người địa phương và du khách sẽ thức thâu đêm, suốt sáng với những lễ hội đặc trưng như thả đèn hoa đăng, đánh trống, chiêng, đua thuyền và hát bả trạo…Ông Lâm Văn Hồng cho biết việc công nhận lễ hội Dinh Cô là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia sẽ góp phần thúc đẩy ngành du lịch của địa phương trong thời gian lễ hội Dinh Cô thì lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam tại Tàu cũng được Bộ VH-TT-DL ký quyết định đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam tại TàuNGUYỄN LONGĐây là một trong những lễ hội lâu đời có ý nghĩa quan trọng đối với ngư dân Tàu, diễn ra vào ngày 15 - Âm lịch hàng hội còn được biết đến với nhiều cái tên khác nhau như lễ cầu ngư, lễ nghinh ông Thủy tướng, lễ tế Cá Ông, lễ rước cốt Ông, lễ nghinh Ông...Thông qua lễ hội, người dân còn cầu xin sự bình an mỗi chuyến ra khơi, thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa và một cuộc sống ấm no, hạnh lễ thường được bắt đầu bằng nghi thức khai nghinh Thủy tướng. Đoàn nghi lễ sẽ tiến hành rước linh vị của Cá Ông từ mũi Nghinh Phong về đến khu vực Bãi Trước. Sau đó, cùng với các bậc bô lão dẫn đoàn tháp tùng tượng Cá Ông từ Bãi Trước về đến Lăng Ông Nam Hải và đọc sớ báo cáo đã nghinh Ông về đến theo sẽ đến lễ cúng tiền hiền và các anh hùng liệt sĩ, lễ xây chầu Đại Bội, lễ tỉnh sắc thần vào Lăng Ông Nam Hải... Các lễ diễn ra với nhiều nghi thức truyền thống trong bầu không khí trang phần lễ là phần hội đặc sắc của lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam, người dân và du khách sẽ được tham gia các hội thi, trò chơi dân gian đầy màu sắc liên quan đến các hoạt động của ngư dân như đan lưới, câu cá, các tiết mục văn nghệ thú vị như múa lân sư rồng, hát bả trạo, hát bội...
Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng 2 Âm lịch, hàng chục ngàn người khắp các miền quê Bà Rịa-Vũng Tàu BR-VT, Nam Trung bộ và Nam bộ tề tựu về Dinh Cô, thị trấn Long Hải tham dự lễ hội. Lễ hội Nghinh Cô Long Hải là một trong những lễ hội nước lớn nhất của ngư dân ven biển Nam bộ. Lễ hội Nghinh Cô thuộc loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu-Nữ thần, nhưng không đơn thuần chỉ thờ Mẫu-Nữ thần mà là sự kết hợp của lễ hội Cầu ngư với tục thờ cúng Thần biển Bà Thủy Long, cá voi và tín ngưỡng thờ Mẫu-Nữ thần của cư dân địa phương vị thần kết tinh, hòa nhập của các “Mẫu” khác. Nghi thức Nghinh Cô thực chất là kiểu thức Nghinh Ông nghinh từ ngoài biển vào trong lễ cúng cá voi. Sự độc đáo của nó là thể hiện sự hội tụ, ngưng đọng của những nét đẹp văn hóa và hương vị riêng của nhiều miền. Dinh Cô và lễ hội Nghinh Cô Long Hải gắn liền với những truyền thuyết dân gian thu hút sự hiếu kỳ của nhiều người. Có hai truyền thuyết giải thích khác nhau về Cô. Lễ hội diễn ra ở Dinh Cô, dưới mỏm núi Thùy Vân, thuộc ấp Hải Sơn, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền. Nhân dân địa phương thường gọi đây là lễ hội Dinh Cô. Thực ra, Dinh Cô là điện thờ Cô. Phía Đông điện thờ, chừng hơn 1 km là mộ Cô. Tên gọi chính xác là lễ hội Nghinh Cô theo nghi thức hành lễ, cũng có người gọi đây là lễ rước Bà Thủy, nhưng tên gọi này mang đặc điểm chung của lễ hội nước, không phản ánh đầy đủ tính địa phương của lễ hội này. Truyền thuyết thứ nhất kể rằng Cô tên là Lê Thị Hồng Thủy, quê quán ở Phan Rang có người kể quê ở Bình Thuận. Cô là con gái duy nhất của ông Lê Văn Khương và bà Thạch Thị Hà, thường theo cha vào vùng Bà Rịa và Gò Công Tiền Giang buôn bán. Cô rất yêu cảnh mến người và không muốn rời xa vùng đất phía Nam. Trong một lần vào Nam buôn bán, khi thuyền còn neo đậu tại vũng Mù U Long Hải, Cô không muốn rời khỏi đất này nên đã xin cha ở lại nơi đây sinh sống lâu dài. Lúc ấy Cô mới 16 tuổi. Nhưng người cha kiên quyết không bằng lòng, buộc cô phải trở về quê hương cùng ông. Khi thuyền nhổ neo rời bến khá xa, nhìn lại trong thuyền không thấy cô, người cha quay lại cất công tìm kiếm ba ngày liền nhưng không thấy. Ông buồn bã quay về quê nhà. Vài hôm sau, xác Cô trôi dạt vào Hòn Hang. Một cụ già ở làng Phước Hải phát hiện. Ngư dân Phước Hải chôn cất Cô trên đồi cát gần nơi tìm thấy xác Cô đó là Mộ Cô bây giờ. Mộ của Cô luôn được cát bồi đắp, cỏ không mọc được mà ngay bên cạnh một cây đa tươi tốt mọc nhanh như thổi che mát mộ Cô. Sau một thời gian, vùng này có dịch bệnh, rất nhiều người bị đau và chết. Trong khi dịch bệnh đang hoành hành, có người nằm mơ thấy Cô báo sẽ giúp dân làng qua khỏi dịch khí. Dân làng đã thắp hương cầu khấn, quả nhiên dịch bệnh qua khỏi. Sau sự việc ấy, có người đã xin bà con xây am thờ phượng, hy vọng Cô sẽ độ trì dân làng làm ăn phát đạt, cuộc sống an lành… Từ đó Cô càng hiển linh. Hàng năm, dân làng tổ chức cúng Cô. Ngày Chính lễ diễn ra lễ hội Nghinh Cô là ngày mất của Cô. Truyền thuyết thứ 2 Cô là liên lạc viên của nghĩa quân Tây Sơn cũng có người nói Cô là con một viên chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn, thường qua lại nơi đây. Cô đã bị quân nhà Nguyễn giết chết cũng có người kể là bị đắm thuyền. Sau này, để tưởng nhớ một người con gái hiển linh, chết vì đạo nghĩa, nhân dân đã lập miếu thờ. Trong hai câu chuyện truyền ngôn của ngư dân địa phương kể trên thì truyền thuyết thứ nhất được nhiều người cho là gần với sự thật hơn. Theo khảo sát của các tác giả cuốn 60 lễ hội truyền thống Việt Nam, thì khi thuyền buôn của ông Lê Văn Khương đi ngang qua mũi Thùy Vân, dây lèo buồm đã gạt cô Lê Thị Hồng Thủy xuống biển. “Mặc dù những người cùng đi trên thuyền đã ra sức tìm kiếm, nhưng vẫn không tìm được cô. Ba ngày sau xác cô nổi lên nơi vũng Mù U, được bà con ngư dân xã Phước Hải chôn cất tử tế. Về sau cô trở nên linh hiển, nhập vào xác đồng, kể lại cái chết oan uổng của mình. Dân làng lập miếu thờ, lấy ngày cô chết 12-2 âm lịch để cúng bái hàng năm. Chuyện xẩy ra vào năm Gia Long thứ ba 1804, lúc ấy cô mới 16 tuổi”1. Không giống với truyền thuyết trên đây, khi viết về núi Thùy Vân một phần của dãy Minh Đạm ngày nay, chứ không phải Núi Nhỏ Vũng Tàu như một số tác giả lầm tưởng sách Đại Nam nhất thống chí của nhà Nguyễn viết nửa cuối thế kỷ 19 cho biết “Núi Thùy Vân cách huyện lỵ Phước An 12 dặm về phía Đông Nam. Trên núi có chùa Hải Nhật là chỗ trông ra biển đón mặt trời, dưới núi có vũng Sơn Trư Bãi Heo. Ngoài mỏm núi có ngọn Thần nữ, tục gọi là mỏm Dinh Cô, trước kia có người con gái chừng 17,18 tuổi, bị bão gạt đến đây, được người địa phương chôn cất, sau đó mộng thấy người con gái ấy đến đây giúp đỡ, người ta cho là thần, lập đền thờ” Mặc dù cách giải thích có khác nhau, nhưng những nét chung đáng lưu ý trinh nữ, chết oan, có mồ mả, địa điểm được xác định khá rõ ràng. Truyền thuyết dân gian cũng nói rõ lý do nhân dân thờ phụng, cúng bái hàng năm chính là vì sự hiển linh của Cô. Sự hiển linh của Cô càng tăng lên khi những ngư dân tới đây cúng bái và cầu nguyện truyền tụng với nhau về những điều được Cô giúp đỡ, phù hộ, che chở trong những lần đi biển hay trong cuộc sống. Và sau những lần được Cô giúp đỡ, họ lại đến cúng bái, dâng phẩm tạ ơn. Lời đồn đại về sự linh thiêng của Cô thế hệ này nối tiếp thế hệ kia ngày càng lan rộng. Vào ngày vía Cô, khách thập phương lại tề tựu về Dinh Cô dự đại lễ, có cả ngư dân từ Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết đến ngư dân Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Cà Mau, Rạch Giá… và không ít du khách từ thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai về tham dự lễ hội, kết hợp hành hương với nghỉ ngơi, tắm biển, làm cho lễ hội Nghinh Cô trở nên đông nhất trong các lễ hội ở BR-VT nói riêng và miền Đông Nam bộ nói chung. Dinh Cô nằm sát ngay bên bãi biển Long Hải. Có thể nói, đây là vị trí đẹp nhất của thị trấn Long Hải, một vị trí sơn thủy hữu tình. Tương truyền ngày trước, nơi thờ Cô chỉ là một ngôi miếu nhỏ bằng cây lá, sát bờ biển. Về sau, do bị thủy triều xâm thực nên dân làng đã dời lên chân núi Thùy Vân. Hồi đầu thế kỷ 20, điện Cô được xây cất, mái ngói. Vào khoảng năm 1930, do có sự tranh chấp đất đai giữa một người Hoa với người Pháp, Điện Cô một lần nữa được dời lên triền núi Thùy Vân tức là vị trí hiện nay. Lần này điện Cô cũng được xây dựng tương đối khang trang bằng vật liệu gạch, đá, xi măng cốt thép. Mồng Tám Tết Đinh Mão 1987, một trận hỏa hoạn dữ dội thiêu trụi hoàn toàn bên trong chánh điện. Dân làng đã quyên góp tiền của xây dựng lại Dinh Cô. Năm 1989, người ta xây dựng thêm trước chánh điện một căn nhà hai tầng theo thế dựa vào vách núi trước chánh điện tầng dưới làm nơi tiếp khách, tầng trên là nhà Võ Ca. Liên tiếp các năm sau đó, 1992, 1993 Dinh Cô luôn được xây dựng bổ sung Phật Đài Quan Thế Âm Bồ tát, nhà khách… Qua nhiều lần tu bổ, xây thêm, hiện nay Dinh Cô đã là một tòa nhà đồ sộ dựa vào lưng núi, mặt quay ra biển uy nghi, với tổng diện tích xây dựng gần m2. Chính điện Dinh Cô bài trí 7 bàn thờ đều làm bằng bệ xi măng. Ngay trung tâm chánh điện là bàn thờ Bà Cô. Nổi bật với bức tượng Bà Cô cao hơn 0,5 mét, mặc áo choàng đỏ, viền kim tuyến lấp lánh, đội mũ gắn ngọc. Phía sau cạnh bàn thờ Bà Cô là bàn thờ Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu Nhị vị Công tử, tức là Cậu Tài, Cậu Quý, Ngũ Hành Nương Nương, Tứ Pháp Nương Nương Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, Ông Địa, Thần Tài. Dinh Cô là điện thờ Cô, trước đây người ta gọi là điện thờ Bà Cô. Đây cũng là nơi diễn ra lễ hội, nơi thực hiện các nghi thức thờ cúng. Cổng Tam quan vào Dinh Cô nằm dưới chân mũi Thùy Vân, đắp nổi hình rồng và hổ theo quan niệm “Long Hổ hội”, phía trên có “Lưỡng long chầu nguyệt” và song phụng chầu. Lối lên điện Cô là 37 bậc tam cấp. Chính điện không phải là một ngôi nhà xây theo kiểu cổ mặc dù trên đao nhà người ta đắp nổi hình “Lưỡng long chầu nguyệt”. Hầu hết các câu đối, câu liễn đều được đúc bằng xi măng và sơn màu xanh đỏ. Trong chính điện dường như chỉ còn một đôi câu đối duy nhất làm từ các mảnh sứ ghép. Ngoài chính điện, ngư dân còn lập bàn thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương Nương, Chư vị, Bà Mẹ Sanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và miếu thờ Hỏa Tinh Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Quan Thế Âm Bồ Tát. Vì sự phối tự với Bà Cô-một nhân thần địa phương, ngư dân Long Hải đã đưa vào Dinh Cô một hệ thống thần thánh đông đảo đại diện cho rất nhiều dòng văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc khác nhau, sống trên những địa bàn khác nhau. Và chính điều đó cho thấy “sự liên kết giữa tín ngưỡng thờ các Mẹ tiêu biểu cho các Mẫu nhiều thần ở khắp nước ta với cái trục trung tâm xoay quanh một mẫu nhân thần địa phương là Bà Cô”3. Liên quan đến Dinh Cô và là một bộ phận quan trọng của di tích là Mộ Cô, nằm trên đồi “Cô Sơn”, cách Dinh Cô chừng 1 km. Năm 1999, Dinh Cô được trùng tu tôn tạo theo phương châm xã hội hóa công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hóa. Hiện nay, Mộ Cô là một nơi khang trang đẹp đẽ, thu hút nhiều người đến thăm viếng, chiêm bái, đặc biệt là trong dịp ra lễ hội Nghinh Cô. Quản lý và điều hành mọi tổ chức hoạt động của Dinh Cô đều do Ban Quản trị Dinh Cô thực hiện… Ban Quản trị có Trưởng ban, Phó ban và các thành viên. Khi Dinh Cô bắt đầu vào mùa tổ chức lễ hội, Ban Quản trị phân công nhiệm vụ cụ thể, chi tiết, lập ra Ban Tế tự, cử Trưởng ban, 4-5 phó ban và 17 tiểu ban để lo những công việc cụ thể trong ba ngày Nghinh Cô.[i] Lễ Nghinh Cô Hàng năm, Dinh Cô có rất nhiều ngày cúng lễ Tết Nguyên đán, Tam Nguyên, Đoan Ngọ trùng ngũ, nhưng lớn nhất, có ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi nhất là lễ Nghinh Cô hay ngày Vía, ngày giỗ Cô. Lễ Nghinh Cô diễn ra trong ba ngày, mồng 10, 11 và 12 tháng 2 âm lịch. Ngư dân địa phương gọi là ngày “Lệ” hay “Lệ Cô”. Trước đó nhiều ngày, người ta đã tính toán sao cho chuyến đi biển phải về kịp đúng ngày diễn ra lễ hội. Tất cả mọi công việc đều được gác lại, tất cả dường như chỉ chuẩn bị cho ngày cúng Cô. Lịch lễ hàng năm được bố trí một cách sít sao, hầu như rất ít có sự thay đổi Từ 6 giờ sáng ngày 10-2, Ban quý tế và ngư dân tề tựu về Dinh Cô chuẩn bị cho lễ Nghinh Cô. 7 giờ ban quý tế tiến hành Thỉnh Long vị Bà Lớn bà Thủy và ông Nam hải về Dinh. Đám rước được chuẩn bị một cách công phu với sự tham gia của Ban quý tế. Đám rước có học trò lễ, ban nhạc, bạn chèo 12 người, trang phục áo đỏ, nẹp vàng, nón lá vàng, tay cầm chèo, long đình hai ngôi, một ngôi Nghinh Bà Lớn, một ngôi nghinh cá Ông, cờ ngũ hành… 9 giờ cúng Tiền hiền Hậu hiền. 10 giờ cầu quốc thái dân an. Bước sang ngày thứ hai, 11 tháng 2 8 giờ sáng tổ chức hội thi chèo thúng và bơi lội. 21 giờ tối cúng Tiên thường. Điều đặc biệt là tăng ni tổ chức lễ tụng kinh cầu an. Trước đó, từ 4 giờ chiều, hàng trăm thuyền ghe của các làng cá Long Hải, Phước Hải, Phước Tỉnh, và một số thuyền ghe từ miền Trung vào, được kết cờ hoa lộng lẫy tề tựu về neo đậu và hướng mũi vào trước Dinh Cô thực hiện nghi thức “chầu Cô”. Đêm xuống đèn trên ghe chiếu sáng một góc trời. Ngư dân tin rằng khi thuyền của họ về chầu Cô, nếu trang trí đẹp cũng có nghĩa là bày tỏ lòng thành kính chân thành nhất đối với Cô, được Cô phù hộ, giúp đỡ cho thuyền ghe nhiều tôm cá. Từ quan niệm ấy cho nên tất cả các thuyền ghe đều thi đua trang trí thuyền ghe của mình sao cho đẹp nhất, tạo nên một vùng biển với hàng trăm chiếc ghe trang trí đủ sắc màu. Ngày 12 tháng 2 Chánh giỗ. Từ 7 giờ sáng ngư dân tổ chức lễ Nghinh Cô ngoài biển về dinh nhập điện. Nghi thức Nghinh Cô được thực hiện theo nghi thức tương tự với lễ Nghinh Ông Nam Hải Đại tướng quân. Ghe Nghinh Cô được chuẩn bị kỹ lưỡng, trang hoàng rực rỡ. Đoàn ghe Nghinh Cô gồm hàng trăm chiếc, trong đó có 2 ghe chính, 6 ghe hộ tống. Hai ghe chính có bày bài vị, hương án, cúng phẩm. Chủ tế, ban nhạc, 12 lễ sinh và 12 bạn chèo cùng ở trên ghe này. Đúng 7 giờ đoàn ghe Nghinh Cô bắt đầu khởi hành, tiến thẳng ra khơi. Khi đoàn ghe cách bờ hơn chừng 1 km, Chủ tế ra lệnh đoàn ghe dừng lại, bắt đầu cho việc cúng lễ. Chủ lễ niệm hương, ban nhạc lễ và lễ sinh xướng. Sau khi lễ niệm hương xong, đoàn ghe tiếp tục diễu hành một vòng lớn trên biển, đi qua miếu Bà Thủy Long rồi trở về bãi biển phía Tây, cách Dinh Cô chừng trăm mét. Trên bờ hai Bóng chàng và 10 thanh niên cầm cờ ngũ hành đứng thành hai hàng đối xứng nhau để rước bài vị, hương án Nghinh Cô về an vị tại Dinh. Khoảng 9 giờ tổ chức Nghi đại lễ cúng Bà Cô. Lễ vật chính gồm heo quay cúng Bà thủy long, heo toàn sinh thịt heo sống để nguyên con cúng Ông Nam hải và các thức ăn chay cúng Bà Cô. Từ 3 giờ chiều đến quá nửa đêm tổ chức hát Bóng rỗi, múa bông mâm ngũ sắc, mâm vàng, mâm bạc, chầu mời, diễn xướng dân gian hát Chặp địa nàng. Cúng phẩm dâng Cô và các thần linh trong lễ hội Nghinh Cô không có gì khác so với lễ hội Nghinh Ông, nhưng nhiều hơn về số lượng và thường xuyên được thay mới. Sở dĩ như vậy có lẽ do số người đến phụng cúng Cô nhiều hơn. Phẩm vật dâng Cô và thần thánh trong các lễ cúng gồm thịt heo sống để nguyên con, heo quay, xôi, chè, các thứ đồ xào, hoa quả… Về nghi thức, các bước lễ cầu an, lễ tế, lễ Nghinh Cô, nghinh Ông, rước kiệu… đều tiến hành tương tự nghi thức Nghinh Ông. Một nghi thức khác mà chúng ta ít thấy trong các lễ hội khác ở BR-VT là lễ phóng sinh trong lễ hội Nghinh Cô. Người ta mua chim để trong lồng và tổ chức thả chim ra, tương tự việc phóng sinh vào các ngày rằm hay mồng một âm lịch mà nhân dân một số nơi vẫn làm… Trong những ngày diễn ra lễ hội Nghinh Cô, Ban qúy tế mời các đoàn hát về diễn tuồng, hát bội. Ngoài ra, người ta còn tổ chức múa lân sư rồng và các trò chơi dân gian khác như thi bắt cá, bắt lươn và các môn thi đua thuyền, đua thúng… Các trò chơi dân gian, đặc biệt môn đua thuyền, đua thúng thường thu hút đông đảo thanh niên ngư dân trong làng tham gia. Đây là một trò chơi thu hút rất nhiều người cổ vũ nên thường diễn ra rất hào hứng và sôi nổi, làm cho lễ hội thêm phần náo nhiệt và hấp dẫn…
lễ hội dinh cô vũng tàu